Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

PHÁC ĐỒ SỬ DỤNG NẸP CHO TRẺ BÀN CHÂN KHOÈO

PHÁC ĐỒ SỬ DỤNG NẸP CHO TRẺ BÀN CHÂN KHOÈO

1. Phác đồ sử dụng nẹp
Nẹp được áp dụng ngay sau khi bột cuối cùng được tháo ra, 3 tuần sau cắt gân. Nẹp bao gồm giầy hở ngón, cổ cao, khuôn thẳng, gắn vào một thanh ngang. Những trường hợp bị một bên, bên chân khoèo được đặt 60 - 70 độ xoay ngoài và bên chân lành là 30 - 40 độ xoay ngoài. Những trường hợp bị 2 bên, thì mỗi bên được đặt 70 độ xoay ngoài. Thanh ngang nên đủ dài để 2 gót giầy ngang tầm với chiều rộng 2 vai. Một lỗi thường gặp là thanh quá ngắn làm đứa trẻ không thoải mái. Đây là lý do thường gặp cho sự thiếu hợp tác của trẻ. 
Nẹp nên mang suốt ngày và đêm trong 3 tháng đầu sau khi bột lần cuối được tháo ra. Sau đó trẻ nên mang nẹp 12 giờ trong đêm và 2 -4 giờ vào giữa ngày. Tổng cộng 14 -16 giờ/24 giờ. Tiếp tục phác đồ này cho đến khi trẻ lên 3 hoặc 4 tuổi.

2. Các loại nẹp
Nhiều loại nẹp được làm sẵn để bán, có loại thanh được gắn sẵn vào giày để cố định, hoặc có thể tháo ra, có loại thanh có thể điều chỉnh chiều dài.
  


3. Lý do của việc mang nẹp
Sau tháo bột lần cuối cùng, bàn chân được dang ở tầm độ tối đa, khoảng 60 - 70 độ ( trục đùi - bàn chân ). Sau phẫu thuật gân, bột cuối cùng được giữ trong 3 tuần. Phác đồ điều trị Ponseti đòi hỏi phải có nẹp để duy trì tầm độ dang và tư thế gập lưng của bàn chân. Đây là một thanh ngang được gắn vào khuôn giày hở ngón. Tầm độ dang bàn chân này cần phải có để duy trì tư thế dang xương gót và phần bàn chân trước và ngăn cản tái biến dạng. Bàn chân sẽ dần dần quay vào trong trở lại, đến một thời điểm điển hình 10 độ xoay ngoài. 
Mô mềm phía trong bàn chân chỉ giữ được ở trạng thái kéo giãn nếu mang nẹp ngay sau khi tháo bột. Khi mang nẹp, 2 khớp gối được tự do, vì vậy trẻ có thể đá chân thẳng ra để kéo giãn gân cơ bắp chân. Dang 2 bàn chân khi mang nẹp, kết hợp với gập nhẹ bàn chân, tạo nên độ gập lưng bàn chân. Điều này giúp duy trì sự kéo giãn cơ bắp chân và gân gót.

4. Tầm quan trọng của việc mang nẹp
Sự nắn chỉnh Ponseti kết hợp với cắt gân qua da thường đạt được kết quả xuất sắc. Tuy nhiên nếu không siêng năng thực hiện chương trình mang nẹp sau đó, sự tái diễn sẽ trở lại với 80% các trường hợp. Điều này trái ngược với tỷ lệ tái phát chỉ 6% đối với các gia đình tuân thủ phác đồ điều trị .

5. Khi nào ngưng mang nẹp
 Thỉnh thoảng, có trẻ sẽ phát triển vẹo ngoài gót thái quá và vặn xương chày ra ngoài trong lúc mang nẹp. Trong trường hợp như vậy, bác sĩ nên chỉnh thanh nẹp xoay ngoài từ 70 độ xuống 40 độ. 
Phác đồ mang nẹp đêm nên kéo dài bao lâu? Không có câu trả lời có căn cứ cho câu hỏi này. Những trường hợp nặng nên mang cho đến 4 tuổi, trường hợp nhẹ có thể mang đến 2 tuổi. Không phải lúc nào cũng phân biệt được nặng hay nhẹ, đặc biệt khi quan sát trẻ ở 2 tuổi. Vì vậy, những trường hợp nhẹ cũng nên mang cho đến 3 -4 tuổi miễn là trẻ vẫn còn chịu mang ban đêm. Hầu hết trẻ em quen với việc mang nẹp và nó trở thành một phần trong lối sống của chúng. Tuy nhiên, nếu sự tuân thủ trở thành vấn đề khó khăn sau 2 tuổi, có thể ngưng mang nẹp để đảm bảo giấc ngủ cho trẻ và cha mẹ. Sự khoan dung này thì không chấp nhận được cho những trẻ dưới độ tuổi này. Dưới 2 tuổi, trẻ em và gia đình của chúng phải được khuyến khích để tuân theo phác đồ mang nẹp bằng mọi giá.

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ ĐIỀU TRỊ CHÂN KHOÈO BẨM SINH THEO PHƯƠNG PHÁP PONSETI

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ ĐIỀU TRỊ CHÂN KHOÈO BẨM SINH THEO PHƯƠNG PHÁP PONSETI (ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP LIÊN CHUYÊN KHOA VẬT LÝ TRỊ LIỆU VÀ NGOẠI CHỈNH HÌNH) Ở TRẺ EM
 
I. ĐỊNH NGHĨA
Chân khoèo bẩm sinh là một tật bẩm sinh của bàn chân bị nhón gót - vẹo trong (talipes equinovarus), bao gồm 3 biến dạng: gập lòng khớp cổ chân, vẹo trong và áp bàn chân. Đây là một tật bẩm sinh phổ biến nhất của bàn chân.

II. CHẨN ĐOÁN
1. Hỏi bệnh
• Tiền sử gia đình có ai bị dị tật bàn chân hoặc các dị tật bẩm sinh khác.
• Mẹ trong thời gian mang thai: đã uống thuốc gì, tư thế ngồi khi làm việc hoặc trong sinh họat hàng ngày.
• Bàn chân khoèo đã được xử trí gì trước đó, thời gian bao lâu.

2. Khám lâm sàng
Lượng giá và tiên lượng chân khoèo dựa vào thang điểm Pirani (xem bảng lượng giá ở phía dưới).
a. Lượng giá chân khoèo theo thang điểm Pirani
• Lượng giá bàn chân giữa:
- Bờ ngoài bàn chân cong.
- Nếp gấp bờ trong.
- Độ bao phủ chỏm xương sên.
• Lượng giá bàn chân sau:
- Nếp gấp sau gót.
- Gập lòng cứng.
- Gót không sờ thấy.
b. Tiên lượng điều trị dựa vào điểm số Pirani ban đầu
• Tiên lượng số lần bó bột nắn chỉnh: tổng số lần bó bột dự định sẽ bằng với tổng số điểm Pirani ban đầu.
• Tiên lượng phẫu thuật gân gót trong bao gân:
- Tổng số điểm Pirani 5 - 6 điểm: có chỉ định phẫu thuật.
- Tổng số điểm Pirani 4 - 5 điểm: 75% trường hợp cần phẫu thuật.
- Tổng số điểm Pirani ≤ 3.5 điểm: không cần phẫu thuật.
- Lưu ý: điểm bàn chân sau rất quan trọng. Riêng bàn chân sau nếu có số điểm là 3 điểm → có chỉ định phẫu thuật gân gót.

3. Chẩn đoán xác định
• Có đủ 3 biến dạng ở cổ chân - bàn chân: gập lòng + Áp + Vẹo trong.
• Có co rút gân gót.
• Có giới hạn TVĐ khớp cổ chân và bàn chân.

4. Chẩn đoán phân biệt
• Cứng đa khớp bẩm sinh (AMC: Arthrogryposis Multiplex Congenita).
• Thoát vị tủy - màng tủy do tật nửa đốt sống (Spina Bifida).
• Bàn chân đụng gót - vẹo ngoài (Taplipes calcaneo - valgus).
• Bàn chân bị khoèo thứ phát sau các bệnh lý tổn thương TKTW: bại não, di chứng viêm não - màng não.

III. ĐIỀU TRỊ
Theo phương pháp Ponseti, chân khoèo bẩm sinh được điều trị theo tiến trình sau:

1. Bó bột nắn chỉnh
• Vật lý trị liệu thực hiện.
• Bó bột đùi - bàn chân, gối gập 90o, bàn chân ở tư thế dang và quay ngửa.
• Thay bột mỗi tuần/lần. Mỗi lần thay bột, bàn chân sẽ được nắn sửa nhiều hơn để đạt đến tư thế bình thường..

2. Phẫu thuật gân gót trong bao gân
• BS Ngoại Khoa thực hiện.
• Nếu sau giai đoạn bó bột, gân gót vẫn còn co rút là sẽ được phẫu thuật gân gót trong bao gân.
• Tiêu chuẩn chỉ định phẫu thuật gân gót sau bó bột nắn chỉnh:
- Tổng số điểm Pirani < 3 điểm.
- Bàn chân đạt tư thế trung tính, vuông góc với cẳng chân.
- Dang bàn chân đạt 60o.
• Sau phẫu thuật, bó bột liên tục 3 tuần để lành mô mềm. Bột bó sau phẫu thuật giữ bàn chân dang 60 - 70o và gập lưng cổ chân 20 - 30o.

3. Mang giày nẹp và theo dõi tái phát
• Vật Lý Trị Liệu thực hiện.
• Tiêu chuẩn chỉ định mang giày nẹp dang bàn chân:
- Sau giai đoạn bó bột nắn chỉnh, bàn chân gập lưng đạt 200 và dang bàn chân đạt 60°.
- Sau phẫu thuật gân gót trong bao gân (đã qua 3 tuần bó bột lành mô mềm).
a. Mang giày nẹp dang bàn chân
• Giày nẹp giữ bàn chân ở tư thế dang ra ngoài 70o và bàn chân vuông góc cẳng chân.
• Thời lượng mang giày nẹp:
- Nẹp phải mang suốt ngày và đêm liên tục trong 3 tháng đầu tiên sau khi lần bột bó cuối cùng được tháo ra.
- Sau thời gian này, trẻ được mang nẹp 12 giờ vào ban đêm và từ 4 - 6 giờ vào ban ngày, tổng cộng khoảng 16 - 18 giờ/ngày. Tiếp tục mang giày nẹp cho đến khi trẻ được 3 hoặc 4 tuổi. Ở giai đoạn sau, chuyên viên VLTL sẽ quyết định thời lượng mang giày nẹp:
+ Chỉ cần mang giày nẹp vào ban đêm.
+ Hay phải mang khi ngủ đêm và cả buổi ngủ trưa trong ngày.
+ Điều này tùy thuộc vào tình trạng hiện tại của mỗi đứa trẻ.
b. Theo dõi tái phát
• Dấu hiệu tái phát: giảm dang bàn chân, giảm gập lưng cổ chân, bàn chân trước bị áp và quay ngửa, gót vẹo trong khi đứng đi.
• Chỉ cần xuất hiện một trong những dấu hiệu trên và bó bột lại ngay và bắt đầu điều trị theo tiến trình như trên.

IV. ĐỀ PHÒNG TAI BIẾN VÀ CÁC LỖI ĐIỀU TRỊ THÔNG THƯỜNG KHI NẮN SỬA VÀ BÓ BỘT
• Tránh quay sấp bàn chân vì làm tăng biến dạng vòm và dẫn đến biến dạng bàn chân hình hạt đậu.
• Việc cố gắng điều chỉnh nhón gót trước khi sửa vẹo trong và quay ngửa sẽ gây ra biến dạng bàn chân lăn.
• Xoay ngoài bàn chân để điều chỉnh áp trong khi xương gót vẫn còn vẹo trong sẽ gây ra biên dạng mắt cá ngoài trượt ra sau.
• Bó bột quá ngắn không sát khớp háng, không giữ được xương gót dang.

V. THEO DÕI VÀ QUẢN LÝ TÁI PHÁT
Sau khi mang giày nẹp trẻ phải tái khám theo lịch đề nghị sau:
• Trong 3 tháng đầu: mang giày nẹp 24/24. Hẹn tái khám để kiểm tra việc tuân thủ mang giày nẹp trong 3 tháng đầu vào các thời điểm: tuần thứ 2 và tuần thứ 6 và tuần thứ 12.
• Từ tháng thứ 3: chuyển sang giai đoạn mang giày nẹp ban đêm và trong các giấc ngủ ngày.
• Tái khám mỗi 4 tháng: cho đến 3 tuổi, theo dõi tuân thủ mang giày nẹp và kiểm tra tái phát.
• Tái khám mỗi 6 tháng: cho đến 4 tuổi, theo dõi tái phát.
• Tái khám mỗi 1 hoặc 2 năm: cho đến khi bộ xương trưởng thành.

VI. QUI TRÌNH MANG GIÀY NẸP PONSETI
1. Chọn giày vừa vặn bàn chân: số đo bên trong giày = chiều dài bàn chân
2. Đo chiều rộng hai vai bằng thước dây.
3. Lắp giày vào nẹp và điều chỉnh
điều trị khoèo bẩm sinh
4. Mang giày vào chân bệnh nhân
Chuẩn bị bệnh nhân:
• BN phải được thoải mái, không khóc. Nên cho bé bú mẹ, bú bình, ngậm vú giả, mút tay hoặc cho cầm đồ chơi bé thích trong khi mang giày để bé nằm yên.
• Mang vớ vải cao tới giữa cẳng chân tránh cọ xát da, vớ được cắt nhìn thấy các đầu ngón chân để theo dõi tuần hoàn.
Mang giày:
• Nên giữ gối gập khi mang giày.
• Mang giày vào chân nặng trước, kế đến chân bị nhẹ hơn. Hoặc mang vào chân bị khoèo trước, sau đó đến chân bình thường.
• Đặt gót chân tiếp xúc sát vào góc của gót giày.
• Kiểm tra gót chân có sát gót giày chưa bằng cách nhìn qua cửa sổ bên cạnh gót giày. Nếu thấy gót chân đã sát vào đế giày là đúng.
• Cài dây cố định qua cổ chân trước, sau đó đến các quai giày ở bên ngoài.

VII. QUI TRÌNH BÓ BỘT CHÂN KHOÈO THEO PONSETI

1. Chuẩn bị bệnh nhân
• Đặt BN nằm ở một góc giường một cách an toàn.
• BN phải được thoải mái, không khóc, không kháng cự. Nên cho bé bú mẹ, bú bình, ngậm vú giả, mút tay hoặc cho cầm đồ chơi bé thích trong khi bó bột để bé nằm yên.

2. Nắn chỉnh bàn chân
Người nắn chỉnh:
• Bàn tay cố định: ngón cái đặt ngay đầu xương sên.
• Bàn tay nắn chỉnh: ngón trỏ và ngón cái cầm phía trên và phía dưới xương bàn ngón I. Quay ngửa bàn chân trước à sau đó dang bàn chân.

2. Đặt lớp lót đệm
Người bó bột:
• Quấn một lớp mỏng gòn mỡ để tạo khuôn chính xác cho bàn chân.
• Quấn gòn từ bàn chân đến dưới khoeo chân.

3. Bó bột từ bàn chân đến dưới gối
a. Người nắn chỉnh: duy trì bàn chân ở vị trí nắn chỉnh tối đa bằng cách giữ bàn chân trước và duy trì lực cố định trên đầu xương sên.
b. Người bó bột
• Bó bột bắt đầu với 3 - 4 vòng quanh ngón chân, rồi bó dần lên.
• Các vòng bột quấn trên tay của người nắn để tạo khoảng rộng cho các ngón chân.
• Quấn bột hơi căng ở các vòng trên gót chân.

4. Tạo khuôn bột
• Tạo khuôn trên đầu xương sên trong khi giữ bàn chân đã được nắn chỉnh.
• Tạo khuôn vòm bàn chân.
• Tạo khuôn phần gót.

Lưu ý:
• Động tác tạo hình khuôn: ngón tay phải di chuyển liên tục trong khi bột cứng dần.
• Tránh lực đè ép trên bất kỳ một điểm riêng lẻ nào.

5. Bó bột lên đùi
a. Người bó bột
• Quấn gòn và bó bột tiếp từ khoeo lên đùi cao tới 2/3 trên đùi.
• Bột có thể đắp thêm vài lớp mặt trước khớp gối để tăng độ chắc.
• Tránh bột quá nhiều ở hố khoeo sẽ gây đè ép vùng khoeo.
b. Người nắn chỉnh: giữ chân bé ở tư thế gập gối 90o - 100o. Giữ vững tư thế này, không để bé cử động khớp gối trong khi đang bó.

6. Cắt tỉa bột
Cắt bỏ phần bột ở mặt lưng các ngón chân cho đến các khớp bàn đốt.

HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ VÀ MANG GIÀY CHO TRẺ
1. Chuẩn bị đầy đủ mọi dụng cụ
2. Giải thích cho cha mẹ
3. Chuần bị bệnh nhân: tư thế trẻ (nằm trên bàn/bồng trong lòng mẹ), trẻ thoải mái, không khó
4. Khám tầm vận động gập lưng cổ chân
5. Khám tầm vận động dang bàn chân
6. Đo chiều dài bàn chân bằng thước dây
7. Đo chiều rộng hai vai trẻ bằng thước dây
8. Chọn giày nẹp phù hợp
9. Điều chỉnh giày trên nẹp: dang 70o đối với CK, dang 45o đối với chân BT
10. Điều chỉnh khoảng cách giữa hai gót giày bắng chiểu rộng hai vai trẻ
11. Mang vớ vào chân trẻ cao tới giữa cẳng chân (vớ được cắt để nhìn thấy đầu các ngón chân)
12. Giữ gối trẻ gập để chuẩn bị mang giày vào chân trẻ
13. Mang giày vào một chân của trẻ
Mang từng bên: chân nặng trước-chân nhẹ sau hoặc chân khoèo trước-chân bình thường sau
14. Đặt gót chân sát vào gót giày
15. Kiểm tra gót chân có sát gót giày bằng cách nhìn qua cửa số cạnh gót giày
16. Cài dây cố định qua cổ chân nằm bên trong giày
17. Cài các dây cố định bên ngoài giày
18. Mang giày vào chân còn lại. Đặt gót chân sát vào gót giày
19. Kiểm tra gót chân có sát gót giày bằng cách nhìn qua cửa số cạnh gót giày
20. Cài dây cố định qua cổ chân nằm bên trong giày
21. Cài các dây cố định bên ngoài giày
22. Kiểm tra hai giày trên chân trẻ
23. Hướng dẫn cha mẹ cách theo dõi trẻ tại nhà khi mang giày nẹp.

 


Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

TÁC HẠI KHÔN LƯỜNG KHI LẠM DỤNG THUỐC KHÁNG SINH

Kháng kháng sinh đang trở thành nỗi ám ảnh toàn cầu. Các nhà khoa học phương Tây một lần nữa đưa ra cảnh báo về thảm họa kháng kháng sinh. Theo đó, đến năm 2050, sẽ có ít nhất 10 triệu người thiệt mạng mỗi năm bởi những căn bệnh từng chữa trị được do tình trạng hầu hết các vi khuẩn kháng kháng sinh.

Những ca phẫu thuật đơn giản như mổ đẻ, mổ viêm ruột thừa cũng có thể gây tử vong. Tình trạng này sẽ xảy ra nếu con người tiếp tục lạm dụng thuốc kháng sinh kể cả khi không cần thiết.
Kháng sinh được bào chế và phân ra làm nhiều loại, nhiều nhóm, mỗi một loại kháng sinh chỉ có hiệu lực đối với một số vi khuẩn nhất định chứ không phải một loại kháng sinh tiêu diệt được hết các vi khuẩn.
Khi sử dụng kháng sinh phụ thuộc vào bệnh nặng hay nhẹ mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng trong thời gian bao lâu, hình thức tiêm, truyền, uống, nhỏ (mắt, mũi, tai), đặt (âm đạo, hậu môn…) hay bôi ngoài da.
Việc sử dụng kháng sinh cũng khác nhau trên các đối tượng khác nhau như trẻ em, người già, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú v.v… Ngoài ra trên những bệnh nhân có bệnh gan, thận thì còn phải cân nhắc chọn thuốc sao cho tránh gây độc thêm cho gan và thận.
Để đưa ra một loại thuốc kháng sinh đúng chỉ định, một bác sĩ học kháng sinh mất thời gian rất lâu, chưa kể bác sĩ khám bệnh phải rất có kinh nghiệm phát hiện mức độ bệnh nặng nhẹ, vi khuẩn nào gây bệnh mới kê đơn kháng sinh. Tóm lại, dù là bác sĩ nhưng để kê đơn thuốc không dễ chút nào.

Sử dụng kháng sinh kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng

Kháng sinh được xem là nhóm thuốc ngoài tác dụng chữa bệnh còn có thể gây hại, chỉ có điều hại ít hay nhiều.
 
Các nước đã luật hoá kháng sinh để người dân thực hiện tốt việc sử dụng kháng sinh đúng cách nhằm bảo vệ sức khoẻ cho người bệnh. Tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ, tổn hại tới gan, thận và đặc biệt sử dụng kháng sinh lâu dài gây nên hiện tượng kháng kháng sinh.
Vấn đề tự ý tăng/ giảm liều lượng, tự ý cắt thuốc, tất cả cái đó bác sĩ gọi là không tuân thủ điều trị nên đại bộ phận bệnh không khỏi, có khỏi cũng chỉ do mình tự đánh giá, khỏi không hoàn toàn.
Bệnh chỉ khỏi về lâm sàng, khỏi về triệu chứng, hết ho, hết sốt nhưng không khỏi về vi khuẩn, trong cơ thể vẫn có vi khuẩn sống sót, vì còn sống sót nên bệnh tái phát có thể 1 – 2 ngày sau, 1 tuần hoặc 2 – 3 tháng sau đó. Và những vi khuẩn này sẽ trở nên đề kháng với kháng sinh, sau này sử dụng kháng sinh đó sẽ không còn tác dụng nữa.
Kháng kháng sinh cũng thường xảy ra ở rất nhiều trường hợp mà các bậc phụ huynh khi đưa con đến bệnh viện trước đó họ đều đã dùng các loại kháng sinh. Một kiểu phổ biến hiện nay mà đa số các mẹ áp dụng cho con đó là lần trước đi khám bác sĩ cho kháng sinh A, lần sau cho B. Đến lượt con ốm lần này, các mẹ sẽ đưa ra đơn thuốc rồi tự đánh giá triệu chứng sốt như thế nào, ho ra sao và áp dụng thuốc nào.
Các trường hợp này đều có “kịch bản” na ná nhau, đó là thấy con sốt, ho, sổ mũi, bố mẹ thay vì đưa con đến viện thì tự ý mua kháng sinh về cho con uống. Những lần ốm trước, họ đều tự điều trị cho con bằng cách đó, nhưng lần này uống thuốc mãi không đỡ.
Theo lời gợi ý của người bán thuốc, họ cũng đổi qua vài loại kháng sinh “tốt hơn, thế hệ cao hơn”, đồng thời cũng đắt tiền hơn. Chỉ đến khi con sốt cao, mệt lả mới đưa đến bệnh viện, làm kháng sinh đồ có cháu mới 7 – 8 tuổi đã kháng với tất cả các loại kháng sinh.
Với những ca này các bác sĩ đều rất vất vả để giành giật sự sống cho trẻ từ tay thần chết. Các bác sĩ phải thay đổi phác đồ điều trị, dùng kết hợp kháng sinh thế hệ cao hơn, liều cao hơn và chi phí đắt đỏ, tốn kém nhưng cũng có lúc trở tay không kịp, vì đã mất đi “thời gian vàng” để trị bệnh. Bác sĩ đành bất lực nhìn bệnh nhân ra đi mà không cứu được.
..
Nguồn:  http://exson.com.vn/

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

Bài Tập Vật Lý Trị Liệu

Vật lý trị liệu cho bệnh lý cột sống

Khi bệnh nhân mới chớm đau lưng, cần phải đến vật lý trị liệu để được hướng dẫn các động tác tập và tư thế tốt trong sinh hoạt hằng ngày nhằm tránh bị nặng thêm.
Đa số các trường hợp chỉ đến bác sĩ khám và uống thuốc thấy bớt đau và nghĩ rằng như thế là hết bệnh. Thực ra đó chỉ là giai đoạn đầu của bệnh lý, nếu người bệnh biết giữ tư thế tốt trong sinh hoạt hằng ngày và tập luyện đều đặn thì bệnh sẽ không nặng thêm và có thể sẽ tránh được phẫu thuật.

CÁC PHƯƠNG THỨC VẬT LÝ TRỊ LIỆU

Tùy theo mức độ, nguyên nhân bệnh lý cột sống và triệu chứng, người bệnh sẽ được trị liệu với các loại máy và những bài tập vận động  thích hợp.

A. ĐIỆN TRỊ LIỆU

SÓNG NGẮN:
Giúp gia tăng tuần hoàn trong các mô sâu, nhờ vậy gia tăng dinh dưỡng vùng tổn thương, đồng thời tăng đào thải các chất gây viêm, làm giảm đau. Áp dụng rất tốt cho các chứng đau cơ xương khớp (bệnh thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp, viêm chu vi vai, viêm xoang…)
SIÊU ÂM:
Nếu bệnh nhân có điểm đau, siêu âm cho hiệu quả rất cao nhờ tác dụng cơ học, các màng tế bào rung lên làm tăng hoạt động màng, gia tăng tuần hoàn, tăng cường dinh dưỡng cục bộ, giảm đau, giảm viêm làm mềm mô sẹo, giảm kết dính.
KÍCH THÍCH ĐIỆN:
Các dòng điện giảm đau được áp dụng đặc biệt khi bệnh nhân đang đau cấp, cơ đang co thắt các dòng điện này sẽ làm giảm đau nhờ ức chế đường dẫn truyền thần kinh lên não và đồng thời làm giảm co thắt  giúp người bệnh mau chóng hết đau.
LASER:
Giúp giảm đau, tê và kích thích tái tạo mô.

B. VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU

Song song với các phương thức trên, vận động tập và giữ tư thế tốt trong sinh hoạt hằng ngày rất quan trọng trong quá trình điều trị.
Mục đích các bài tập là để lấy lại sự cân bằng của hệ cơ xương khớp, điều mà thường xuyên bị phá vỡ mọi nơi mọi lúc trong quá trình sống và làm việc của con người. Do vậy phải tìm ra các cơ co rút để kéo giãn, đồng thời tìm ra các cơ yếu để tập mạnh. Tùy theo bệnh lý mà có các bài tập khác nhau.

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG

Bài tập 1: Tập mạnh cơ lưng.

–  Tư thế khởi đầu: Nằm sấp, hai tay xuôi theo thân mình, hai chân duỗi thẳng:
Bai tap vat ly tri lieu - Tap manh co lung
– Thực hiện động tác: Nâng đầu và hai vai lên khỏi mặt giường giữ lại 5-10 giây rồi trở lại tư thế khởi đầu. Lập lại động tác 10-15 lần. Ngày tập 2 lần.
Bài tập vật lý trị liệu - Tập mạnh cơ lưng

Bài tập 2: Tập mạnh cơ thẳng bụng

 Bài tập vật lý trị liệu - Tập mạnh cơ bụng– Tư thế khởi đầu:  Nằm ngửa,  hai bàn chân đặt trên giường.
– Thực hiện động tác: Ngóc đầu dậy, hai bàn tay chạm vào hai đầu gối (chân vẫn đặt trên giường và trở về vị trí khởi đầu).  Lập lại động tác 10-15 lần. Ngày tập 2 lần.

Bài tập 3:  Tập mạnh cơ chéo bụng

Bài tập vật lý trị liệu - Tập mạnh cơ chéo bụng– Tư thế khởi đầu giống như  bài tập cho cơ thẳng bụng.
– Thực hiện động tác: Ngóc đầu dậy, chạm tay phải vào đầu gối trái và trở về vị trí khởi đầu. Sau đó đổi bên (tay trái chạm đầu gối phải). Lập lại động tác 10-15 lần. Ngày tập 2 lần.

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG CỔ & THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ

Bài tập 1:

– Tư thế khởi đầu:  Ngồi, đầu ở vị thế trung tính.
– Thực hiện động tác:  Ép cằm vào cổ rồi ấn cổ vào tường (hoặc ấn  xuống gối khi nằm), giữ lại 5 giây rồi thư giãn. Lập lại động tác 10- 15 lần. Ngày tập 2 lần.
Ép cằm vào cổ ở tư thế nằmBài tập vật lý trị liệu cho cột sống cổ - Ép cằm vào cổ ở tư thế ngồi

Bài tập 2:

-Tư thế khởi đầu:  Ngồi, đầu ở vị thế trung tính.
-Thực hiện động tác:  Xoay đầu chậm rãi qua lại 2 bên, giữ lại ở tầm độ cuối mỗi bên 5 giây, tăng dần tầm độ ở những lần sau. Lập lại 15 lần cho mỗi bên. Ngày tập 2 lần.
Bài tập vật lý trị liệu cho cột sống cổ - Xoay đầu chậm qua hai bên

Bài tập 3:

Bài tập cho cột sống cổ ở tư thế ngồi - Xoay đầu chậm qua hai bên– Tư thế khởi đầu:  Ngồi, đầu ở vị thế trung tính.

– Thực hiện động tác:. Nghiêng đầu qua bên Trái (T), vai Phải (P) hạ xuống để cho cơ Thang trên bên (P) giãn ra, nếu chưa đủ căng thì dùng tay (T) kéo nhẹ đầu về bên (T), giữ lại 5 giây, trở về vị thế ban đầu. Lập lại động tác cho bên kia. Lập lại 10-15 lần cho mỗi bên. Ngày tập 2 lần.

THOÁI HÓA CỘT SỐNG  THẮT LƯNG
Ngoài 3 động tác của thoát vị đĩa đệm cần tập thêm các động tác nghiêng hai bên, xoay cột sống
                         

Và các bài tập sau:


Bài tập 4: Lắc xương chậu:

Bài tập vật lý trị liệu cho thoái hóa cột sống thắt lưng - Lắc xương chậu– Tư thế khởi đầu:  Nằm ngửa, 2 bàn chân đặt trên giường.
– Thực hiện động tác: Ưỡn cong thắt lưng lên, (mông và lưng trên vẫn sát mặt giường), sau đó ép sát thắt lưng xuống giường. Lập lại  10-15 lần.  Ngày tập 2 lần.
 Bài tập 5: Kéo giản cơ dựng sống thắt lưng
 Vật lý trị liệu cho thoái hóa cốt sống thắt lưng - Kéo giãn cơ dựng cột sống thắt lưng Vật lý trị liệu cho thoái hóa cốt sống thắt lưng - Kéo giãn cơ dựng cột sống thắt lưng
– Tư thế khởi đầu: Nằm ngửa, 2 chân thẳng.
– Thực hiện động tác: Co 1 chân, (chân kia vẫn duỗi thẳng), dùng 2 tay đan lại, kéo chân này ép sát đùi vào bụng, giữ lại 5 giây, trở về vị thế khởi đầu. Làm lại động tác này cho chân đối bên. Cũng có thể co 2 chân cùng một lúc nếu không khó chịu. Lập lại 10-15 lần cho mỗi bên. Ngày tập 2 lần.

Bài tập 6: Kéo giãn nhóm cơ Ụ ngồi – cẳng chân

Có thể thực hiện ở vị thế ngồi, đứng hoặc nằm. Giữ lại ở vị trí căng nhất 5-10 giây. Lập lại 10-15 lần cho mỗi bên. Ngày tập 2 lần.

Lưu ý: Ở tư thế ngồi và đứng lưng phải giữ thẳng khi gập người về trước.
KÉO CỘT SỐNG:
Mục đích làm giãn các cơ co thắt cạnh cột sống, làm giảm sức ép lên rễ thần kinh.Với trường hợp thoát vị đĩa đệm độ 1- 2, khi được kéo giãn sẽ tạo áp suất âm nội đĩa và nhân nhày sẽ được hút về vị trí cũ. Tuy nhiên, nếu kéo lâu quá, áp suất trong và ngoài đĩa sẽ cân bằng, nhân nhầy sẽ thoát ra trở lại. Thời gian này được tính toán theo từng bệnh nhân cụ thể.
Tương tự, trọng lượng kéo phải đạt yêu cầu. Nếu kéo nhẹ quá sẽ không có tác dụng mà chỉ làm mất thời gian của người bệnh. Trọng lượng kéo cột sống thắt lưng có thể từ 1/4 – 1/2 trọng lượng cơ thể; từ 1/10 –  1/6 cho cột sống cổ. Sự tính toán này phải dựa trên tuổi tác, sự vững chắc hệ cơ xương khớp của người bệnh. Trọng lượng kéo sẽ được theo dõi để tăng dần trong quá trình điều trị.
Góc kéo cũng quan trọng, tùy theo vị trí đĩa đệm muốn kéo mà điều chỉnh góc kéo cho phù hợp.
Sau khi kéo xong bệnh nhân cần được nghỉ ngơi vài phút, mang nẹp, nằm nghiêng ngồi dậy.

TƯ THẾ TỐT TRONG SINH HOẠT HẰNG NGÀY

– Dù thoát vị đĩa đệm hay thoái hóa cột sống cũng không  nên cúi đầu, cúi lưng và không ở lâu một tư thế .
– Không nằm võng, ghế bố,  nệm mềm, không gối đầu cao (gối mỏng lót ở vùng cổ), không  ngồi xổm vì những tư thế này làm cột sống cong dễ gây thoát vị.
– Khi ngồi, nhớ thẳng đầu, thẳng lưng, không thò đầu ra trước (đầu nên ở trên đường thẳng với trục cột sống).
– Muốn nhặt vật dưới đất phải giữ lưng thẳng, khuỵu gối xuống rồi nhặt vật. Không được khiêng vật nặng. Không được xách đồ nặng trên 5 kg (khi có bệnh lý ở cột sống cổ).
– Không đi guốc cao gót vì sẽ làm tăng độ ưỡn thắt lưng dễ gây trượt đốt sống.

Một số hình ảnh minh họa:

Khi ngồi học tập, làm việc …
bai tap vat ly tri lieu cho cot song
Khi nâng, nhấc vật nặng:

Khi nằm nghiêng, phải kê gối đủ cao để giữ cột sống cổ thẳng hàng với cột sống lưng:

Khi nhặt vật phải khuỵu gối, giữ lưng thẳng: